NHU CẦU TÍCH HỢP CHẤT DINH DƯỠNG THỰC VẬT VÀ QUẢN LÍ MÀU MỠ CỦA ĐẤT

I/ NHU CẦU TÍCH HỢP CHẤT DINH DƯỠNG THỰC VẬT VÀ QUẢN LÍ MÀU MỠ CỦA ĐẤT

  1. Các nguồn dinh dưỡng vô cơ và hữu cơ bổ sung.

Phân vô cơ chứa hàm lượng dinh dưỡng cao hơn hữu cơ. Nó có những thành phần dễ xác định, và chất dinh dưỡng trong phân vô cơ thường có sẵn cho cây. Các nguồn dinh dưỡng hữu cơ được xác định là dồi dào trong những vật chất hữu cơ giúp cải thiện những tài nguyên của đất như cấu trúc đất, độ thấm và khả năng giữ nước. Xét theo những lợi ích riêng lẻ này, dinh dưỡng vô cơ và hữu cơ bổ sung cho nhau. Cách quản lí tốt nhất chính là thực hiện sự kết hợp này.

  1. Những lợi ích của hợp chất dinh dưỡng và và những phương pháp tiếp cận việc quản lí màu mỡ của đất.
  • Đứng từ góc độ dinh dưỡng, quản lí tích hợp có thể được xem xét ở hai cấp độ khác nhau:

+ Quản lí dinh dưỡng tích hợp (IPNM) mục đích là để kết hợp các nguồn dinh dưỡng vô cơ và hữu cơ, được xây dựng trên nền tảng lợi ích riêng của cả hai nguồn dinh dưỡng. Trong IPNM, nông dân ứng dụng những nguồn hữu cơ có sẵn trên đồng ruộng hoặc vùng lân cận và bổ sung thêm bằng phân nhân tạo để đạt được mục tiêu năng suất và chất lượng, và phục hồi độ màu mỡ của đất, nơi mà qua các bài kiểm tra đã thể hiện đất có mức độ dinh dưỡng thấp.

+ Trong khi IPNM là phương pháp tiếp cận tập trung vào khía cạnh cung cấp dinh dưỡng của mùa vụ sản xuất, thì quản lí tích hợp độ màu mỡ của đất chứa đựng mọi khía cạnh trong việc hấp thụ dinh dưỡng của đất bao gồm sự chọn lọc của giống cây trồng và kích thước sức khỏe vật lí, sinh học của đất- nhân tố có thể nâng cao khả năng hấp thụ dưỡng chất. Chẳng hạn, dưới điều kiện khô hạn, loại đất được bao phủ bởi vật chất hữu cơ có thể giữ cho đất nhiều hơi ẩm hơn là loại đất không được bao phủ và hơi ẩm được bổ sung này có thể dẫn đến việc cải thiện độ hấp thụ những dinh dưỡng của phân và tăng năng suất.

  • Hợp chất dinh dưỡng cây trồng và quản lí độ màu mỡ của đất chia sẻ cùng một mục tiêu là đảm bảo sự hấp thu dinh dưỡng hiệu quả và phát triển cây trồng cùng với giảm thiểu tối đa các tác hại cho môi trường.

II/ QUẢN LÝ DINH DƯỠNG

  1. Nguyên tắc của thực hành quản lí tốt nhất và điều hòa dinh dưỡng
  • Các bài thực hành, qua những nghiên cứu và kinh nghiệm để năng suất cao hơn, nhiều lợi nhuận hơn, thân thiện với môi trường hơn và được xã hội đón nhận hơn, được mệnh danh là thực hành quản lí phân bón tốt nhất (BMPs). Mục tiêu của BMPs là để cung cấp dinh dưỡng thích hợp với yêu cầu cây trồng để tối ưu hóa năng suất trong khi giảm thiểu tổn thất chất dinh dưỡng ra môi trường.
  • Ứng dụng BMP trong một trong bốn yếu tố quản lý chất dinh dưỡng (nguồn, tốc độ, thời gian và địa điểm) cung cấp cơ sở cho việc “quản lý dinh dưỡng”, một khuôn khổ cho việc sử dụng hiệu quả và hiệu suất của các chất dinh dưỡng thực vật để đạt được lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường.
  • Một BMP đơn lẻ có thể cải thiện hiệu suất trong một hoặc hai yếu tố quản lý. Bởi vì bốn yếu tố quản lý cần được quan tâm nhiều như nhau nên quản lý dinh dưỡng đòi hỏi phải áp dụng một bộ các BMP bổ sung cho nhau sẽ giải quyết bốn yếu tố. Nếu bất kỳ một trong bốn yếu tố bị bỏ qua, thì quản lí dinh dưỡng trong trang trại dường như không có hiệu suất và hiệu quả. Yếu tố yếu kém nhất sẽ có một sức ảnh hưởng mạnh nhất đối với toàn bộ kết quả.
  • Việc lựa chọn BMPs nào sẽ thay đổi theo vị trí và cái nào có hiệu quả nhất cho một trang trại sẽ đáp ứng điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu, loại cây trồng, hệ thống quản lí và các nhân tố đặc biệt khác.

Dưới đây là những nguyên tắc khoa học ứng dụng BMPs:

+ Nhất quán với các cơ chế nông nghiệp: Lưu tâm đến những nguyên tắc liên quan đến khoa học, bao gồm độ màu mỡ của đất, dinh dưỡng cho cây, tính chất vật lí và hóa học của đất, nước, khí tượng nông nghiệp. Ví dụ, thiếu ẩm và tàn héo có thể trở nên xấu hơn dưới điều kiện khô hạn khi chất dinh dưỡng tập trung xung quanh rễ giành phần nước từ thực vật qua thẩm thấu. Trong trường hợp này, bón phân sẽ nên đúng thời điểm phù hợp với nước và độ ẩm hiện có trong đất

+ Nhận ra sự tương tác với các nhân tố khác trong hệ thống trồng trọt: Các ví dụ bao gồm cây trồng, ngày trồng, mật độ cây trồng, luân canh cây trồng.

+ Nhận ra sự tương tác giữa các nguồn dinh dưỡng, tỉ lệ, thời gian và địa điểm:

Ví dụ, một nguồn dinh dưỡng từ chất giải phóng có kiểm soát có thể không được sử dụng cùng thời điểm với nguồn từ chất tan trong nước

+ Tránh những tác động bất lợi đến rễ cây, lá và cây con:

Ví dụ, bón phân dải cần được giữ trong khoảng cách an toàn so với cây con để tránh những thiệt hại có thể xảy ra với cây con

+ Nhận thấy những ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng cũng như số lượng:

Ví dụ, Nito ảnh hưởng đến cả số lượng và hàm lượng protein. Protein là một chất dinh dưỡng quan trọng và nó ảnh hưởng chất lượng hạt lúa mì. Tỉ lệ Nito trên nhu cầu thiết cho năng suất tối ưu có thể làm tăng hàm lượng protein, nhưng vượt quá ngưỡng sẽ tác động xấu đến sức khỏe của cây trồng, sản lượng và chất lượng, và tính bền vững của môi trường. Việc sử dụng Nito trong giống cây ưa Nito nên chú ý điều: Một số giống lớn lên dưới hàm lượng Nito cao có xu hướng mọc hoang phí. Ví dụ: phần cây cỏ lớn làm chi phí thu hoạch cao hơn, vì vậy việc lựa chọn đúng đắn giống cây trồng và áp dụng các chương trình bón phân là cần thiết.

  1. Đúng nguồn dinh dưỡng: Chọn nguồn dinh dưỡng cung cấp sự cân bằng của tất cả các yếu tố dinh dưỡng, cung cấp các chất thích hợp với nhu cầu cây trồng
  • Các nguồn tốt cho một hệ thống quản lý chất dinh dưỡng phải đảm bảo việc cung cấp cân bằng tất cả các chất dinh dưỡng thiết yếu hiện diện dưới dạng sẵn cho cây, bất cứ khi nào cây trồng cần trong suốt mùa sinh trưởng. Lựa chọn đúng nguồn (bao gồm cả các nguồn hữu cơ) cũng phải xem xét tính nhạy cảm có thể mất chất dinh dưỡng, bất kỳ sự tương tác dinh dưỡng hoặc vấn đề tương thích, tính nhạy cảm của cây đối với nguồn dinh dưỡng, và rủi ro từ bất kì yếu tố phi dinh dưỡng kể cả các nguồn vật chất.

Các nguyên tắc khoa học áp dụng cho việc đúng nguồn chất dinh dưỡng cho cây bao gồm:

+ Cung cấp dinh dưỡng trong mẫu thực vật có sẵn: Dinh dưỡng được cung cấp hòa tan trong nước và có sẵn trong cây, hoặc dinh dưỡng trong mẫu chuyển đổi dễ dàng thành dạng thực vật có sẵn trong đất.

+ Nhận ra tính nhạy cảm của cây trồng đối với các yếu tố liên quan: Hầu hết các dinh dưỡng có một ion đi kèm có thể có ích, trung tính hoặc bất lợi cho dạng cây trồng trong đất.Ví dụ, Kali clorua đi kèm trong lục hóa của Kali có lợi cho ngô nhưng có thể gây hại đến chất lượng của một số loại cây ăn quả và rau củ.

+ Đáp ứng tính chất vật lí và hóa học của đất: Ví dụ như việc tránh bón Nitrat cho đất bị ngấm nước và sử dụng bón ure bề mặt mà không có enzyme ức chế ure trên đất có độ pH cao. Một số phân bón có tác dụng chua trên các loại đất, những loại đó chỉ nên được bón cho đất kiềm hoặc kết hợp với bón vôi.

+ Nhận biết sự tương tác giữa nguyên tố dinh dưỡng và các nguồn dinh dưỡng: Ví dụ có thể kể đến là sự tương tác của Photpho kẽm, nito làm tăng nito có sẵn và phân bón bổ sung phân chuồng.

+ Nhận ra khả năng pha trộn thích hợp: Một số sự kết hợp của các nguồn hoặc các sản phẩm hút ẩm khi trộn, hạn chế tính đồng nhất của các vật liệu pha trộn, kích thước hạt nhỏ nên đồng nhất để tránh sự phân chia sản phẩm; nguồn chất lỏng chắc chắn có thể “ra muối” vào nhiệt độ thấp hoặc phản ứng với các thành phần khác để tạo thành gel hoặc kết tủa.

+ Kiểm soát các tác động của các yếu tố phi dinh dưỡng: Ví dụ, nguyên liệu dùng để sản xuất phân bón có thể chứa kim loại phi dinh dưỡng. Hơn nữa, những yếu tố này nên được giữ trong giới hạn an toàn.